LÃO THẦN Y
Kiệt Tấn
Hò… ơ ớ ơ ơ…
(chớ) Gió đưa gió đẩy về rẫy
ăn còng
về sông ăn cá (ơ ờ) về đồng ăn
(ơ ớ) cua (ờ ơ…)
Hò… ơ ớ ơ ơ…
Cái răng, Ba láng (mà) Vàm xáng, Phong điền (ờ
ờ…)
Anh thương em cho bạc cho tiền
đừng cho lúa gạo (ơ ờ…)
Hò… ơ ớ ơ ơ…
(chớ) đừng cho lúa gạo xóm riềng họ
(ờ ớ) hay (ơ ơ ơ…)
Chợ Cái răng nằm
ở cuối con rạch mang cùng tên đổ ra Cần
thơ, chành lúa quanh năm nhộn nhịp, ghe thuyền lui
tới bán buôn sầm uất. Hồi nhỏ thím Ba
thường theo ba mình bơi xuồng từ kinh Cờ
đỏ đổ ra rạch Cái răng rồi ghé
chợ. Ba thím đi bổ thuốc ở các tiệm
thuốc bắc, con nhỏ thì đi theo để
được dịp ngắm chợ, ăn bánh kẹp tàn
ong hoặc chuối nướng cơm nếp có xẻ ra
ở giữa, chan chút nước dừa béo béo. Mùi nếp
cháy khét trên lửa than thơm phức, cắn vào bên trong nhưn
chuối nóng hổi ngọt sớt, thím còn nhớ
hương vị đó cho tới bây giờ.
Từ ngày ông nội thím
mất, ba thím bỏ nghiệp võ đổi sang đạo
tu Tiên và chăm ngành y dược giúp đời. Năm nào
ông cũng đi ngao du ba bốn tháng để lên núi hái
thuốc, luyện khí và chẩn mạch cho người
nghèo. Có khi vắng nhà cả năm. Người nói ông lên
Thất sơn, núi Cấm, kẻ nói ông tu luyện bùa phép
ở núi Tà lơn, nhưng ông Thuần tánh người kín đáo
nên chẳng ai biết đích xác hành tung của ông. Chỉ
biết khi ông trở về làng Cờ đỏ thì lối
xóm mừng lắm, vì ông trị bệnh miễn phí cho
mọi người. Mà ông cho thuốc thiệt là mát tay,
trị đâu hết đó, ngay cả những cơn
bệnh ngặt nghèo. Ông lại biết bấm độn
xủ quẻ nên người ta đồn ông trị
bệnh có pha bùa phép. Ông nổi tiếng là « Lão Thần
y », không biết vì trị bệnh hay như thần, hay
vì chữ « y » ghép vào tên ông là « Thuần »
người nhà quê đọc trại ra thành « Thần y ».
Trong nhà Lão Thần y bày
rất nhiều bàn thờ, trong đó có bàn thờ Ông
với hình vè Quan Công mặt đỏ ngồi giữa, Châu
Xương, Quan Bình cầm thanh long đao và xà mâu
đứng hầu hai bên, cặp mắt Quan Công xuất
thần nên đứng chỗ nào cũng thấy như
bị Ông nhìn, đi qua lại như có Ông ngó theo. Vì
vậy, hồi nhỏ thím Ba rất sợ, mỗi lần
đi ngang qua trang thờ cứ cúi gầm đầu,
hễ lấm lét nhìn lên lại thấy Ông trợn mắt
ngó mình như thể sắp hét lớn. Lại thêm vừa
nghe kể trong truyện Tam quốc, Quan Công chỉ cần
vớt trái cái bóng của đối thủ là tướng
địch cũng đủ rụng đầu nên thím càng
sợ hơn nữa, đi ngang cúi đầu cứ nghe
rợn rợn ở cần cổ. Thành thử lúc nhỏ
thím hay đi vòng qua phía bên kia để tránh. Nhưng đi
vòng lại đụng nhằm cái trang thờ Bà Cửu
thiên Huyền nữ. Tuy vậy cũng đỡ hơn vì
tranh họa của Bà thụt vào trong, bên trên có màn
đỏ phủ xuống, bên ngoài có treo đôi hài, lọng
và quạt phủ giấy vàng óng ánh, khi gió lùa tới phe
phẩy lại tưởng
chừng như sống thiệt. Mỗi lần bắc
ghế thắp nhang, tim cô gái cứ đập thình
thịch không ngớt.
Nếu ở Thới lai
người ta gọi thím là thím Ba, thì khi về Cờ
đỏ lối xóm lại quen gọi là thím Năm, vì thím
đứng hàng thứ tư trong gia đình, tên thím là Nguyễn thị Diệu.
Bắt đầu là cậu Hai, trai đầu lòng nuôi không
được, ông bà Thuần rất lấy làm thất
vọng, buồn bã cả năm. Kế đến là dì Ba,
rồi cậu Tư, rồi tới thím, kế đó là
một trai và một gái đều chết lúc còn bồng. Cuối
cùng là con trai út, cậu Tám. Dì Ba và cậu Tư đều
đã lập gia đình và ra riêng ở Bình thủy, nơi
đó đất tốt, cao ráo, làm vườn làm rẫy
được, có huê lợi nhiều hơn là làm ruộng
ở Cờ đỏ. Chỉ còn cậu Tám, nhỏ hơn
thím năm tuổi, ở lại Cờ đỏ lo
phụng dưỡng mẹ già. Vốn là người nhân
hậu nên thím Ba rất thương và thông cảm tình
cảnh nghèo túng của thằng em trai duy nhứt của
mình. Thím thấy anh chị mình tuy có phần nào khá giả
hơn mà không có lòng bằng cậu Tám đứa em út.
Từ thuở nhỏ hai chị em đã khắng khít
với nhau hơn chị Ba và anh Tư. Hai người này
lúc lên mười lăm mười sáu đã phải đi
làm công bên Bình thủy để tìm kế sanh nhai. Ba thím
thường hay ngao du đây đó. Chỉ còn lại trong
căn nhà lá quạnh quẽ bên bờ kinh Cờ đỏ
nước đục quanh năm hai chị em, hủ
hỉ với bà má hiền từ ít nói, giỏi chịu
đựng, không hề than van trách móc bao giờ. Má con
thường ra đồng hái rau nhút, bắt ốc
bươu ốc lát, mò cua, nôm cá hoặc cắm câu,
đắp đỗi qua ngày. thỉnh thoảng hai chị
em sực nhớ ba bèn ôm nhau mà khóc. Đoạn đời
thơ ấu tăm tối bên ngọn đèn mù u le lói trôi
qua, trong tiếng chó sủa văng vẳng ở
đầu kinh, tiếng võng kẽo kẹt xa xa bên hàng xóm,
và tiếng xào xạc của bụi sả sau hè. Qua mùa
gặt, chị em dắt nhau ra đồng mót lúa cho hũ
gạo trong nhà đỡ vơi, và bà má đỡ lo âu.
Lúc thím được
mười bốn tuổi, má thím chợt bịnh nặng.
Ba thím đang trên đường hành đạo, trong nhà
chỉ còn có đứa em chín tuổi ngơ ngáo. Anh chị
của thím đều đi làm công ở nơi xa. Bệnh
trở nên nguy kịch, qua ngày thứ ba má thím bị á
khẩu, không còn nói năng được nữa. Cô gái
hoảng sợ vội vàng nhổ xuồng bơi ra tận
chợ Cái răng hốt thuốc. Cô còn nhớ tiệm
thuốc bắc ba cô thường ghé qua. Hốt
được thang thuốc, cô bơi rút dòng nước
ngược để về cho kịp, mồ hôi
ướt dầm. Bắt đầu vào kinh Cờ
đỏ, cô thấy nhẹ nhõm đỡ mệt phần
nào. Bỗng cạnh be xuồng một con cá lóc vụt
trồi lên rồi phơi ngửa bụng lờ
đờ. Cô gái bật khóc nức nở : điềm
chim sa cá lụy. Cô mếu máo :
- Má ơi ! Con hốt
thuốc về tới rồi, má ráng chờ con. Mô Phật,
xin Trời Phật hộ độ cho má con. Nam mô a di
đà Phật…
Cô vừa khóc vừa xoáy
giầm bơi miết, thỉnh thoảng hỉ mũi,
khoát nước kinh rửa mặt.
Trời chạng
vạng, vừa ghé xuồng vào bờ, đã thấy
thằng em dại của mình ngồi ở đâu cầu
đứng dậy la lớn :
- Chị ơi ! Má
chết rồi ! Hu hu… má chết rồi chị Năm
ơi ! Em sợ quá ra đây ngồi chờ chị
từ hồi chiều. Em sợ quá chị ơi !
Cô gái thất thanh la
lớn :
- Trời ơi !
Má ! Má !
Cô ôm thằng em mình vào
lòng, giở hổng nó lên chạy riết vô căn nhà om
tối :
- Má ơi má ! Sao má
không chờ con dìa ? Má ơi là má !
Hai chị em ôm chầm
lấy thi thể má mình khóc rống. Tay chưn bà đã
lạnh ngắt. Nhà không đèn đóm. Muỗi đói bay vo
ve, bụi sả sau hè đong đưa xào xạc. Chặp
sau, chừng như ý thức bổn phận mình, cô gái lò dò
xuống bếp kiếm lửa thắp lên ngọn đèn
mù u leo lét. Đôi mắt bà má vẫn mở trao tráo. Cô
đưa tay vuốt mắt. Mắt vẫn mở trao tráo.
Đứa em quíu người lại nắm vạt áo
chị mình. Cô lầm thầm :
- Vái hương hồn
má có linh thiêng xin má hãy nhắm mắt về trời… Má
đừng có mở mắt như vậy em con sợ…
tội nghiệp.
Cô lạy ba lạy,
quẹt nước mắt rồi đưa tay vuốt
mắt má mình. Trán và mũi người chết lạnh
ngắt. Mắt vẫn trợn trừng. Đứa em
nhỏ ôm cứng lấy chị mình :
- Chị ơi ! Em
sợ !
- Em đừng sợ, có
chị đây nè.
Tuy nói vậy, cô gái
cũng bắt đầu run và khóc lớn hơn. Cô ngó lên
trang thờ bắt gặp đôi mắt Quan Công trợn
trừng ngó mình lom lom nên càng thêm khiếp đảm.
Một cơn trốt từ bờ kinh thổi vào xô
giạt ngọn đèn chập chờn chực tắt. Đứa
em vụt chỉ tay lên trang Bà hét lớn :
- Kìa !
Trong bóng tối nhá nhem,
tàng lọng thếp vàng rung rinh, đôi hài nhỏ đong
đưa tòn teng, hai chiếc lục lạc đồng
đen kết trên màn đỏ khua nhẹ leng keng mà
tưởng chừng như chuông vọng vang rền. Hai
chị em chết đứng, càng ôm cứng lấy nhau,
mắt không rời trang thờ. Bỗng đầu kinh có
tiếng chó tru từng chặp, xoáy buốt ruột gan, sau
đó tiếng tru trở thành tiếng sủa quấu
quấu, ban đầu một con, rồi hai con, rồi ba
bốn con. Bao nhiêu tiếng động trong xóm đều
như biến mất, chỉ còn lại có tiếng chó
sủa. Tiếp theo có tiếng chưn ai đi trên con
đường đất đắp dọc theo con kinh,
mỗi lúc một tới gần… gần hơn… gần
hơn nữa… Tiếng chưn bước vào sân, tiếng
chó sủa thưa thớt rồi im bặt. Chỉ còn
lại tiếng bước nặng nề mà khoan thai,
băng qua sân đất rồi dừng lại ở
cửa căn nhà có người đàn bà nằm chết.
Hai đứa nhỏ nín
khóc, quíu lấy nhau run bây bẩy, răng đánh bò cạp,
ngó ra. Bóng người đàn ông đồ sộ. Tim hai
đứa nhỏ khua trống chầu, mắt tét mở,
máu trên mặt mũi tay chưn đã rút đi đâu hết.
Người đàn ông bước qua ngạch cửa,
dừng lại ở cuối chưn người chết,
cất tiếng trầm trầm :
- Má chết rồi
phải không ?
Lão Thần y !
Phải, lão đã về,
đứng đó, bóng đen cao lớn dong dỏng. Hai
đứa nhỏ nhận ra tiếng ba mình, òa lên khóc :
- Ba ! Ba !... Má
chết rồi ba ơi !
Rồi cả hai chạy
tới ôm cứng lấy bóng đen. Lão Thần y
đặt cái túi lớn đang xách trên tay xuống
đất, xoa đầu hai đứa con mình :
- Tội nghiệp dữ
hôn, hai đứa con tui !
- Ba, ba ! Tụi con
sợ quá ba ơi !
Hai đứa giành nhau lên
tiếng. Lão siết đầu thằng con út vào bụng
mình :
- Thôi ! mấy con
đừng sợ, ba đã về tới đây rồi.
Đừng sợ nữa.
Lão Thần y gỡ hai
đứa nhỏ ra, tìm thêm ngọn đèn nữa thắp
lên cho sáng. Lão đặt tay lên trán vợ mình. Lạnh
ngắt. Tay kia lão nắm bàn tay người đàn bà
ướm thử. Lạnh ngắt. Lão dời tay xuống,
giữ lơ lửng trên mũi, xoa xoa tới lui. Không còn hơi
thở. Không còn dấu hiệu hơi thở. Lão
đặt tay lên ngực người đàn bà, ấn nhè
nhẹ. Còn hơi ấm, hình như còn một chút hơi
ấm, rất mong manh, chỉ có mình Lão Thần y mới
nhận ra. Lão khe khẽ gật đầu, chòm râu bạc
dài run nhẹ như tơ khói :
- Hai con đừng
sợ. Chưa sao đâu.
Hai đứa nhỏ ngó
ba mình trân trân, không hiểu Lão Thần y muốn nói gì.
Người đàn bà vẫn nằm đó cứng
đơ, mắt mở trao tráo. Lão đứng dậy
bước ra sau nhà, nơi đó lão có trồng một
số dược thảo để sắc thuốc. Lão
hái một cọng « chiêm tinh ngũ hổ »,
bước trở vào nhà, đứng ở đầu
người chết, soi cọng dược thảo
cạnh ánh đèn, ngắm nghía, bấm đốt ngón tay.
Mày lão nhíu lại, chăm chú định thần. Bỗng
lão vuốt tay lên chòm râu bạc, gật gù rồi thở
phào một tiếng dài, mỉm cười :
- Má bây chưa tới
số chết đâu !
- Hả ?...
Cô con gái chưng hửng
lên tiếng. Thằng em ngó hết ba mình tới ngó má mình,
ngơ ngác. Không phải ngạc nhiên. Điều đó
vượt ra ngoài tầmhiểu biết. Nó vượt qua
điều thường thấy, vượt qua
đời sống mỗi ngày. Lão Thần y lặp lại,
chậm rãi :
- Ba nói má mấy con
chưa tới số chết đâu !
- Hả ?... Má chưa
chết thiệt hả ?
Lão Thần y không trả
lời cô gái. Lão khom người mở cái bọc lớn
lấy ra ba cái chén, một chén lớn và hai cái chung nhỏ.
Lão thắp thêm một ngọn đèn cầy cắm
giữa hai ngọn đèn đặt ở phía đầu
người chết. Lão lựa nhổ một sợi tóc
đen trên mái tóc hoa râm của người đàn bà, cắm
dưới lòng bàn tay mình rồi buông ra. Sợi tóc dính
lơ lửng. Đuôi tóc còn sinh khí. Lão gật gù. Lão
quấn sợi tóc vào cọng chiêm tinh ngũ hổ, úp
dưới cái chén lớn đặt giữa hai bàn chân
người chết. Đoạn lão úp hai chung nhỏ lên
đầu hai ngón chưn cái của thi hài. Lão lên
tiếng :
- Hai con ngó chừng hai cái
chén chung nầy.
Hai đứa nhỏ nhìn
chòng chọc vào hai cái chung, chờ đợi. Không có gì
xảy ra hết. Lão đặt lên bụng vợ mình
một lá bùa viết bằng son đỏ trên giấy quyến
nền vàng, nét chữ buông sổ xuất thần. Lão thay áo
thụng trắng vào người, cái áo mà hai đứa
nhỏ chưa hề thấy ba mình bận lần nào. Lão
đi ra phía sau vườn dược thảo, trải ra
một tấm vải dày màu huyết dụ cắt theo hình
bát quái, ở giữa có một vòng tròn vẽ nửa đen
nửa trắng quấn vào nhau. Lão xõa tóc, ngồi xếp
bằng trên tấm vải. Lão Thần y bắt đầu
nhập định.
Xung quanh lặng ngắt
như tờ. Mấy con đom đóm chớp tắt
lập lòe trên bụi sả. Thỉnh thoảng có tiếng
con gì trườn bò sột soạt trong lùm cây và bụi
cỏ gần đó -tiếng rắn khua động hay
chuột lủi chạy ? Hai đứa nhỏ không
rời mắt khỏi hai chén chung. Bỗng một tiếng
oang oác nổi lên trên bờ kinh, hai đứa giật mình
ngó ra, không thấy gì, chỉ kịp nghe tiếng
đập cánh của một con vạc ăn đêm. Hai
đứa lại dán mắt lên chén chung. Ba ngọn đèn
ở đầu giường tre chập chờn, mấy
sợi tóc bạc trên đầu người chết lay
động, có cảm tưởng như bà sắp ngồi
dậy. Hai chị em ngó nhau, nỗi sợ hãi cực cùng
toát ra tròng mắt trắng dã.
Đến gần
khoảng nửa đêm, Lão Thần y bắt ấn
đặt lên phía ngực bên phải của mình, lâm râm
niệm chú một tràng dài. Đoạn lão đứng
dậy. Chờ cho đám mây đen vén ra để lộ
mặt trăng lưỡi liềm cong mỏng, Lão Thần
y há miệng hớp ánh trăng mờ sáng, mật ấn
linh hiển bắt chặt trên tay xẹt chớp về
phía căn nhà lá có người nằm chết, đồng
thời quát lên một tiếng đinh tai nhức óc :
- Nhập !!!
Bên lối xóm trẻ con
vụt ré khóc. Từ đầu xóm tới cuối xóm lũ
chó vụt bật lên tru réo âm u. Hai đứa nhỏ
giựt bắn người kinh hãi ngó ra sau nhà nghe ngóng :
- Nhập !!! Nhập !!!
Lão Thần y thu tay về
chớn thủy, tiếp tục hớp trăng,
đồng thời điểm phóng mật ấn gọi
hồn về phía căn nhà lá, như vậy cả thảy
ba lần.
Đoạn lão chắp
hai tay lên ngực xá ba xá, cúi đầu niệm những câu
thần chú ngắn gọn, bí hiểm. Trong nhà đứa
nhỏ chợt thấy một chén chung động
đậy rồi rớt xuống đất. Nó còn đang
kinh tâm tán đởm thì bên kia chị nó vụt la lớn :
- Coi kìa em ! Coi kìa…
Nó ngó theo ngón tay chỉ.
Chén chung bên ngón chân kia cũng động đậy,
ngừng lại một chút rồi lay mạnh rớt
xuống đất lăn lóc. Người đàn bà chợt
thở khì một tiếng dài, nói ú ớ... Hai đứa
nhỏ té ngửa, bò càng, đoạn lồm cồm nhỏm
dậy dợm bỏ chạy. Từ phía sau nhà, Lão Thần
y khoan thai bước ra :
- Hai con chớ sợ, má
con sống lại rồi đó !
Dừng một chút, Lão
trầm trầm nói tiếp :
- Má con sẽ còn sống
lâu hơn ba nữa.
Người đàn bà
trở mình thều thào ;
- Khát… Khát nước
quá !... Cho tui miếng nước…
Cô gái hoàn hồn chạy
ra nhà sau múc chén nước mưa trong lu bưng lên, tính
đỡ má dậy cho uống. Lão Thần y đưa tay
cản lại :
- Khoan ! Con cho uống
như vậy má con sẽ mắc nghẹn. Má con hồn vừa
nhập thể nên còn yếu lắm.
Lão ngắt một cái
đuôi trầu chấm nước lên đôi môi khô queo
của vợ mình. Người đàn bà chắp chắp
miệng. Lão nhễu thêm vài giọt lên miệng.
Người đàn bà đã bắt đầu biết
nuốt, trái cổ nhúc nhích. Hai đứa nhỏ mừng
quýnh buột miệng la lên :
- Má sống lại
rồi ! Má sống lại rồi !
Hai đứa ôm lấy
má khóc sướt mướt. Lão Thần y lên
tiếng :
- Má con còn mệt lắm.
Hãy để cho má con ngủ tiếp cho lại sức.
Người đàn bà
sống lại ngủ liên tiếp ba ngày ba đêm. Cô gái túc
trực đổ nước cơm và thuốc vào
miệng má mình. Lão Thần y thỉnh thoảng bấm ên
cổ tay vợ mình để chẩn mạch. Mạch
mỗi lúc một mạnh thêm lên và đều hơn. Lão
rất ung dung, không lộ một chút gì lo lắng. Qua ngày
thứ tư, bà má đã ngồi dậy được và
nói lại được như thường. Cô gái tò mò
hỏi má mình đã thấy được những
chuyện gì trong mấy ngày vừa qua, nhứt là trong lúc bà
« chết ».
Bà nói bà nằm chiêm bao
thấy mình xuất hồn. Sau khi xuất ra, hồn
đứng ngó xác mình nắm nuối, quyến luyến, xót
thương đứa con trai đang ôm xác má mình mà khóc
kể. Bỗng có hai con quỉ sứ mặt xanh nanh
nhọn xông tới lôi bà đi, nói có Diêm vương đòi
bà xuống hầu. Bà bịn rịn con mình, nhưng hai con
quỉ sứ bức bách lôi xểnh bà đi. Bà đi qua
nhiều cửa địa ngục, nhìn bên trong thấy
lũ ma vương đầu trâu mặt ngựa cầm
chỉa đứng canh gác bọn quỉ đói đầu
lớn tợ trâu, bụng to tợ trống, cổ nhỏ
tợ kim đang bốc đồ mà ăn, nhưng khi
đút vào miệng đồ ăn vụt biến thành than
lửa. Bà lại đi qua nhiều cây cầu cao chót vót, thăm
thẳm bên dưới có tiếng rên la vọng lên, rắn
rít bò lểnh nghểnh quấn lấy bọn ma bị
xiềng xích, đứa ngồi trên bàn chông, đứa
đang bị cắt lưỡi, đứa đang
lặn ngụp trong chảo dầu sôi sùng sục.
Tới cửa thứ
chín bà được đưa vào yết kiến Diêm
vương. Vị này ngồi trên một ngôi trượng
quá cao, ngó không thấy mặt. Ông quát quỉ sứ đem
sổ Bộ đời ra
coi. Vị giữ sổ Bộ
đời tra cứu rất lâu, trình lại chỉ
thấy tên bà trong Bộ sinh
mà không thấy ghi trong Bộ
tử. Diêm vương khiển trách bọn quỉ vô
thường đã bắt lầm người và dạy
phải mau mau đem bà trả về dương thế.
Ông căn dặn bà khi ra tới cổng chót đừng có
ăn « cháo lú ». Nếu
không, khi trở lại trần gian bà sẽ mất hết
ba hồn chín vía, và quên hết mọi chuyện trong dĩ
vãng. Và quan trọng nhứt là có một điều bà đã
thấy nhưng cấm tuyệt không được nói ra.
Nói ra, bà sẽ ngã chết liền tức khắc. Chỉ
có thể trối trăn lại trước khi chết. Bà
dập đầu lạy tạ Diêm vương xin tuân
lệnh, rồi theo bọn quỉ sứ dẫn
đường trở về dương thế. Tới
cổng chót có quán cháo lú. Tuy đói lắm nhưng bà không
ăn. Có nhiều người ăn xong trở nên lú
lẫn hóa thành con nít.
Câu chuyện má mình
thuật lại có vẻ hoang đường, hầu
hết giống như những điều trong kinh
Phật đã hằng nói đến. Tuy nhiên, cô gái cũng
tin chắc rằng âm cảnh thiệt sự đúng như
lời má cô kể lại, không một chút nghi nan. Tuy
vậy, còn cái điều « mật
ước » giữa má cô và Diêm vương cứ khiến
cô còn thắc mắc hoài. Nhưng điều này dính
liền với mạng sống của má mình nên cô không dám
hỏi thêm. Cô ao ước tới cái ngày nào má mình hấp
hối, cô sẽ có mặt ở bên cạnh để nghe
lời trăn trối và biết rõ được
điều « mật
ước » sinh tử đó từ miệng má mình,
trước khi bà trút hơi thở cuối cùng.
Kiệt
Tấn